Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu thuyết Hồn Khói Mù. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu thuyết Hồn Khói Mù. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2020

Tống Chính Thao, nhân vật người Trung Hoa đầu tiên của tôi


Hắn là nhân vật phản diện tàn ác và thủ đoạn của "Hồn Khói Mù", là bộ mặt tăm tối của chính quyền đặc khu Phong Thổ.
Khi qua phần 1 Mở Đầu, viết đến phần 2, tôi không dám nghĩ đến chuyện đưa người Trung Hoa vào làm nhân vật chính. Bởi vì viết về họ tôi phải khai thác khía cạnh tâm lý đặc thù của người Hoa, mô tả những mối quan hệ trong gia tộc người Hoa, tạo dựng không gian sống của cộng đồng người Hoa. Trong cuộc sống, tôi có rất ít mối quan hệ với người Trung Quốc hay Hoa kiều.

Một tác giả khôn ngoan vẫn có thể giải quyết vấn đề bằng cách né tránh, ở đây, tôi có thể chỉ viết về cộng đồng người Việt ở Phong Thổ. Và như vậy, thế giới người Hoa sẽ được mô tả qua cái nhìn của người Việt. Sự né tránh này hoàn toàn lương thiện và được các tác giả sử dụng rất nhiều, nhất là khi nhân vật chính được viết ở ngôi thứ nhất (tôi).
Nhưng trong văn chương, tôi ít né tránh vấn đề. Trong cuộc sống thật cũng vậy, tôi thường đi thẳng, chấp nhận vượt qua trở ngại, chấp nhận thương đau thiệt thòi. Tôi không là người khôn ngoan.
Một trong những truyện ngắn đầu tiên của tôi viết về đất nước Thổ Nhĩ Kỳ, năm 2006, là khi tôi chưa hề đặt chân đến nước Thổ. Truyện ngắn “Thành Phố có hai mùa mưa nắng” được viết khi tay nghề còn rất non kém, nhưng là một dấu mốc khi tác giả đưa ngòi bút vượt qua không gian mình đang sống.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

Phần Kết

(Tác giả giữ bản quyền. Xin đừng trích dịch hay sao chép lại.)

*

 

Sài Gòn mùa hoa mai vàng. Chiến dịch vận động tranh cử đang diễn ra sôi nổi ở các quận huyện. Xuân an bình tự do về trong ánh mắt trẻ thơ long lanh, trong nụ cười rạng rỡ của các cụ già.

Đảng Thanh Niên Tự Do dựng diễn đàn thảo luận với cử tri trên công viên Khải Định. Lá cờ màu chàm tung bay phần phật trong gió xuân. Cánh chim hiên ngang chao lượn giữa vùng trời bao la là biểu tượng của Đảng Thanh Niên Tự Do. Họ cần thêm sự ủng hộ cử tri đất Sài Gòn để chiếm được phần lớn số ghế ở Nghị viện liên bang. Những người ủng hộ họ không chỉ là những thanh niên tuổi mười tám, lần đầu tiên cầm lá phiếu dân chủ trên tay, không chỉ là những sinh viên vừa bước chân vào trường đại học, không chỉ là các công nhân trẻ từng ngày đổ mồ hôi trong những khu công nghiệp sầm uất. Họ còn hy vọng có được lá phiếu của những người đã qua một thời tuổi trẻ khao khát tự do.

Diễn giả là một người đàn ông lục tuần quắc thước, mặc đồ vest đen.

“Giữa mùa xuân an bình này, chúng tôi mong đồng bào đừng quên một phần máu thịt của chúng ta còn chìm trong nỗi thống khổ ngút ngàn, đừng quên một phần non sông gấm vóc đang bị tàn phá huỷ diệt. Tình hình vi phạm nhân quyền và hủy hoại môi trường vẫn tiếp tục diễn ra nghiêm trọng ở các đặc khu. Cho đến bây giờ, những tội ác này vẫn nằm ngoài khả năng can thiệp và thương thảo của nhà nước Việt Nam. Đảng Thanh Niên Tự Do ngoài những hoạt động kinh tế, xã hội, y tế, đối ngoại và từ thiện vẫn có nhiệm vụ chính là tranh đấu chống lại những sai phạm đi ngược công ước quốc tế về nhân quyền và bảo vệ thiên nhiên. Buổi nói chuyện hôm nay, chúng tôi muốn trình bày với quý đồng bào vấn đề tranh đấu cho các đặc khu ở Việt Nam, những khó khăn, cố gắng và thành công của chúng tôi. Ứng cử viên của Đảng Thanh Niên Tự Do là một trong những nhân chứng hiếm hoi thoát ra khỏi đặc khu Phong Thổ. Từ mười năm lăm năm nay, anh liên tục tranh đấu để đòi quyền thanh tra, kiểm soát các vùng đất mà gần năm mươi năm trước, chính quyền cũ đã bán rẻ hoặc cho Trung Quốc thuê mượn dài hạn. Chúng tôi xin giới thiệu, tiến sĩ Hchuk, chuyên gia kinh tế đối ngoại liên bang.”

Thạc bước lên diễn đàn giữa những tràng vỗ tay. Bao giờ những tiếng vỗ tay này cũng gợi nhớ tiếng súng liên thanh vang lên trong rừng tre, nó luôn đưa Thạc trở về nơi chốn cũ. Gió thổi qua những hàng me đường Cộng Hòa, buông rơi những chiếc là vàng cuối đông còn sót lại. Thạc đưa tay lên, nhìn cái đồng hồ cũ kỹ. Nó tróc lở và rỉ sét. Kim chỉ 20 giờ 05. Từ mười lăm năm nay, Thạc vẫn đeo nó. Từ mười lăm năm nay thời khắc vẫn dừng lại như vậy. Thạc nhìn xuống đám đông, xúc động nói:

“Kính thưa quý đồng bào! Tôi đến từ Phong Thổ. Tôi sanh ra ở đấy. Ông bà tôi, cha mẹ tôi, người yêu tôi, bạn bè tôi đã vĩnh viễn nằm lại đặc khu. Nhưng tôi mất liên lạc với Phong Thổ từ mười lăm năm nay. Chỉ qua những hình ảnh chụp trên vệ tinh, tôi mới biết, Phong Thổ đã từng bị hủy diệt, đã từng cháy rụi và sụp đổ. Khi đấy, tôi vừa trốn thoát ra được vùng tự do. Hiện nay người Trung Quốc đang xây dựng ở Phong Thổ một khu công nghiệp mới, chuyên sản xuất các loại hóa chất quốc phòng và hóa chất công nghiệp cung cấp cho cả Hoa Lục. Lượng chất thải mà các chuyên gia đo được từ đoạn sông Sìn Thà đổ ra từ Phong Thổ đã vượt quá xa mức độ cho phép, nó đạt đến ngưỡng vô cùng độc hại…”

Thạc dừng lại một thoáng, lắng nghe gió về xào xạc những hàng me.

“… Những vận động kiên trì của chúng tôi đã đạt được kết quả khả quan đầu tiên. Ngày 01 tháng Ba này, đoàn thanh tra Liên Hiệp Quốc được phép đến Phong Thổ để có những đánh giá sơ bộ về tình hình nhân quyền và mức độ tàn phá môi trường. Tôi cũng được phép có mặt trong đoàn thanh tra. Vâng, tôi sẽ về lại Phong Thổ.”

*

Cơn mưa xuân đêm qua làm dậy lên mùi đất, mùi lá non. Chân trời tím ngát còn chưa thức giấc bình minh. Buổi sớm mù sương ở xứ Huế cổ kính lãng đãng khói nhang trầm, thoang thoảng hương ngọc lan. Hàng quán đã lục đục mở cửa, dọn ghế, xếp bàn. Nhà sư bước thong thả trên lề phố, cắm từng nén nhang trước mỗi cửa nhà, gửi đến mỗi gia đình trong thôn xóm lời nguyện cầu bình an.

“A di đà Phật.”

Tiếng chào buổi sáng hiền lương vang lên khe khẽ. Những người dậy sớm đã quen với hình ảnh chiếc áo nâu sòng. Nhưng không ai biết sư thầy tên gì. Hơn mười năm trước, thầy về đây nương nhờ cửa Phật, lặng lẽ làm công việc chăm sóc trẻ mồ côi, trẻ tàn tật. Cũng không ai biết thầy từ đâu đến. Mỗi sáng tinh mơ nhà tu trẻ cúi đầu đi trên những con đường làng, thầm lặng cắm xuống những nén nhang.

Tiếng chuông chùa sớm ngân lên trong rừng thông. Thầy ngước mắt nhìn về phương Bắc. Gió núi đưa hương đại ngàn xuôi Nam, mang theo lời thở than uẩn ức.

“A di đà Phật. Cầu mong oan linh siêu thoát.”

Đêm qua Nen mơ thấy Thạc quay về lại Phong Thổ. Ba thằng con trai ngồi trên bờ đá nhìn xuống những khoảng ruộng bậc thang lấp xấp bên dưới triền núi. Tia nắng cuối cùng vừa tắt trên nương cải vàng, để lại bóng chiều xám nhạt nhòa. Mân đưa chung rượu màu đỏ lên môi, rưng rưng nước mắt.

“Vì sự sống và cái chết của ba đứa mình.”

*

Thầy Bâng dạo quanh bờ hồ ngắm hoa đào buổi sớm. Mùa xuân về lạnh lẽo giữa bầu không khí tưng bừng nhộn nhịp. Trên đại lộ giăng đầy bảng hiệu sặc sỡ, xe cộ nối đuôi nhau như mắc cửi. Sức sống hừng hực của thành phố đang muốn vỡ òa ra. Nó càn quét, đẩy lùi đám người vọng cổ vào những xó xỉnh nhỏ bé của loài côn trùng cô độc. Thầy Bâng thu mình lại trong nỗi nhớ nhung xa vắng. Tờ báo mới treo bên đường đập vào mắt thầy như ngọn đèn pha vừa lóe lên trong đêm tối. Thầy mua một tờ báo, hối hả tìm một băng ghế trống trong công viên.

Những ngón tay của thầy run run chạm lên trang giấy nhật trình. Khuôn mặt chữ điền ngang tàng của Chu Lệnh Khang nằm ngay trang chính.

“Phiến quân Trung Tân Phục Quốc của Khổng Tiết đã chiếm được bốn tỉnh thành phía Tây Bắc, thành lập chính quyền cách mạng lâm thời ở Tân Cương, Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên. Quân nổi dậy đang trên đường băng qua Thiểm Tây, Hà Bắc tấn công vào Bắc Kinh, thế mạnh như vũ bão.”

Thầy Bâng mở điện thoại. Mẩu tin nhắn ngắn ngủi hiện ra.

“Chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin, tướng quân Từ Yến đã hiên ngang ngã xuống trên chiến trường Thiểm Tây. Chu Lệnh Khang và Hứa Ngải Kỳ."

Thầy Bâng lặng người đi, giữa lúc binh lửa này, Chu Lệnh Khang vẫn nhớ đến những người bạn cũ. Thầy lưỡng lự một chút rồi gõ vào điện thoại những dòng chữ tiếng Hoa:

“Thằng Cún chuẩn bị tốt nghiệp đại học Y Khoa Quốc Gia, hiện đang thực tập ở bệnh viện An Dân. Nó cao 1 mét 78, nặng 65 ký. Chân mang giày số 45. Mong anh và cô Hứa Ngải Kỳ bảo trọng.”

*

Thằng Cún ngồi ở tầng năm, trong chung cư của sinh viên Y nội trú. Tô mì tôm trước mặt nó đã nguội lạnh, bắt đầu bốc mùi hăng hăng.

Các sinh viên vừa qua một ngày làm việc với chuyên gia liên bang. Ca phẫu thuật cuối cùng mất hơn một giờ, mổ tách những khối u ruột già. Những hình ảnh thối rữa, những phần cơ thể máu me bị cắt bỏ gắn chặt trong đầu thằng Cún, giờ đây lại hiện ra. Nó nhắm mắt lại suy nghĩ miên man, quá trình hoại tử đưa đến cái chết này phải có nguồn gốc. Cả nhóm chuyên gia đều biết rằng, chỉ cần chặn đứng được tiến trình thối rữa là bệnh nhân được cứu sống, nhưng rồi họ chỉ có thể làm công việc đơn thuần nhất là cắt bỏ.

Những khối ung thư mọc rễ bò đi trong cơ thể người bệnh như những bóng ma di chuyển chậm chạp trên tường. Từ ba năm nay, đêm nào nó cũng đi một mình vào nhà xác tìm tòi, xục xạo. Thằng Cún tin rằng, cái chết chỉ là một trạng thái khác của sự sống. Nhưng rồi, nó không thể tìm ra dấu vết sự sống trong những cái tử thi lạnh lẽo. Họ đã vĩnh viễn ra đi, không bao giờ có thể quay lại. Nó vật vã ngày đêm cố tìm lời giải đáp, bao giờ suy nghĩ của nó cũng trôi dạt về một vùng đất bí ẩn. Thằng Cún nhớ đến một người. Ông ta đã đi con đường trái ngược với khoa học, ông ta đã có một cách nào đấy phục hồi các tế bào chết. Sự hủy hoại trong chính cơ thể nó đã được một phép màu chặn đứng và tái sinh.

Mười lăm năm nay, thằng Cún nung nấu ý định quay lại Phong Thổ tìm lại ân nhân, nhưng ước mơ của nó cứ mờ mịt. Hôm qua nó được tin, chú Thạc đang chuẩn bị cùng đoàn thanh tra của Liên Hiệp Quốc quay lại Phong Thổ.

Nó thẫn thờ mở hộc tủ trong góc phòng ra. Giữa những món đồ chơi trẻ em cũ kỹ, sứt mẻ là chiếc ống tre dài hơn một gang tay. Đôi mắt thằng Cún từ từ xám xịt lại, long lanh như hai hòn bi chai.

Ngọn đèn điện trong gian phòng chập chờn rồi tắt phụt. Trong bóng ngày tàn nhập nhoạng, thằng Cún thận trọng trải tấm da lên bàn. Hình ảnh núi rừng Phong Thổ chậm chạp hiện ra. Những chiếc bóng ma vật vờ đi lại trong gian phòng có mùi mì tôm hủy hoại. Lão Què chống gậy đứng trên lưng chừng núi, chỉ tay về Khe Đá.

“Ông đã mang kho báu giấu vào đấy.”

Thằng Cún thì thào vào khoảng không tan loãng:

“Cháu không cần kho báu. Khe Đá chắc cũng đã bị bọn chúng san thành bình địa rồi. Cháu chỉ muốn biết, làm cách nào ông cứu được cháu. Làm cách nào để phục hồi những tế bào hoại tử. Làm cách nào để chặn đứng căn bệnh ung thư.”

Gió núi tràn qua thành phố thổi bay những cánh hoa đào rữa nát.

*

Berlin, 01. 07. 2020

Lưu Thủy Hương

Phần 3: Ngày thứ Ba cuối cùng - 20 giờ

(Tác giả giữ bản quyền. Xin đừng trích dịch hay sao chép lại.)

*

Chu Lệnh Khang bồng thằng Cún chạy về hướng Khe Đá. Cảm giác bị theo dõi lại trỗi dậy, hắn dừng chân dáo dác nhìn quanh. Những mái nhà đổ nát của làng Thổ Phỉ câm lặng hiện ra trong sương chiều xẩm tối như những ngôi mộ lớn. Từ đấy những ánh mắt u uẩn dõi ra, gửi đi lời nguyền rủa. Chu Lệnh Khang tự hỏi, có bao nhiêu hồn ma quay về sống trong những căn nhà đổ nát này. Nhưng rồi hắn nhếch môi, tự nhủ: “Nếu họ mạnh hơn mình, họ đã tấn công.” Hắn không nhìn quanh nữa mà rảo bước đi về phía trước.

Chẳng mấy chốc rừng cây tất thụ đen đúa đã hiện ra trong tầm mắt.

Thằng Cún đang gục đầu trên vai Chu Lệnh Khang, nói nhỏ:

“Chú để cháu ở bờ rừng này rồi quay lại.”

Chu Lệnh Khang rùng mình nhìn bờ rừng lạnh lẽo hiu quạnh trong bóng ngày tàn. Hắn nói to để tự trấn an chính mình:

“Sao quay lại? Mình vào Khe Đá chứ. Cháu sợ à?”

Thằng Cún gật đầu:

“Cháu sợ. Trong bóng đêm họ rất dữ, chú sẽ không thoát được như lúc trưa.”

“Chú không sợ cho chú. Chú chỉ sợ cho cháu. Cảm giác buổi trưa đấy thật là… vui. Lần đầu tiên trong đời chú lo sợ cho người khác.”

Thằng Cún cọ trán vào bộ mặt râu ria tua tủa của Khang, nó thích thú nói:

“Chú Khang. Chú là người tốt.”

Khang ngỡ ngàng cười:

“Chú còn không biết làm người tốt thì phải sống như thế nào.”

Thằng Cún thở dài:

“Cháu biết đấy. Nếu còn sống, cháu cũng thích làm người tốt.”

Khang xiết chặt thằng bé vào lòng, cười sảng khoái:

“Vậy thì mình cùng sống một lần cho thật kiêu hãnh.”

“Cho thật kiêu hãnh.” Thằng Cún không rõ kiêu hãnh là gì vẫn sung sướng nhắc lại. Nó tin cậy choàng hai tay lên cổ Khang.

Sương trắng sũng nước buông dày đặc bìa rừng. Những tàn cây tất thụ chiều tối tỏa hơi độc mịt mùng cản lối như muốn bảo rằng, đã vào đến làng Thổ Phỉ thì không còn đường quay lại.

Chu Lệnh Khang bắt được hơi độc, nhảy mũi liên tục. Hắn kéo áo khoác trùm kín thằng Cún, bảo:

“Chuẩn bị nhé. Chú sẽ chạy rất nhanh đấy.”

 Bỗng dưng hắn nghe sau lưng có tiếng gọi:

“Này anh kia.”

Chu Lệnh Khang lia súng quay phắt lại.

Bên lùm gai sấu lờ mờ bóng một lão già nhỏ bé, râu tóc bạc phơ. Lão đột ngột hiện ra giữa làn sương âm u, cứ như từ dưới đất chui lên. Bộ mặt lành lặn, hiền từ của lão già sáng lên một thoáng trong bóng tối. Cặp mắt linh hoạt của người dương thế hướng về hắn ra chiều thân thiện. Khang nghĩ, thật kỳ lạ, sao trong cái làng chết này vẫn có một người sống. Hắn hạ súng cộc cằn hỏi:

“Thì ra là ông. Ông theo dõi tôi từ ngoài ruộng ngô, đúng không?”

Lão già gật đầu.

Chu Lệnh Khang sốt ruột nghe hơi thở thật mỏng của thằng Cún trên vai. Hắn cau có nói:

“May cho ông đấy. Suýt nữa thì tôi bắn rồi. Ông theo dõi tôi làm gì?”

Lão già cất giọng trong trẻo như trẻ con:

“Vì thằng bé kia.”

“Ông muốn gì ở nó?”

“Muốn nó đi theo ta. Nhanh lên thì còn kịp.”

Lão già nói xong liền quay lưng đi. Lão chống khúc cây rừng, cái chân què bước đi khập khễnh mà nhanh nhẹn vô cùng. Chu Lệnh Khang lưỡng lự suy tính nhưng hắn chẳng biết cách nào khác. Thằng Cún ngóc đầu dậy, yếu đuối bảo:

“Mình đi theo ông. Có lần cháu thấy ông ngồi trên núi.”

Chu Lệnh Khang nghe thế, không hỏi thêm nữa, vội vã bồng thằng Cún chạy theo. Hắn chạy một lúc thì vã mồ hôi. Bóng lão già vẫn lướt đi như sương gió. Khang sợ sệt la lên:

“Này, lão Què.”

Lão già bật cười khanh khách:

“Phải. Ta là lão Què.”

*

Tiếng súng đanh gọn vang lên. Thân mình Nen bị một sức mạnh đẩy về phía sau. Gã té ngửa trên đất, nhắm mắt lại, chờ cái chết tìm đến. Nhưng rồi cái chết không đến. Nen thấy mình vẫn còn sống. Những ngón tay của gã vẫn nhúc nhích được. Cẳng chân của gã đưa lên rồi nhẹ nhàng hạ xuống. Chỉ có lòng ngực bị đè nặng trĩu.

Nen ngóc đầu dậy, hắn nhận ra mái tóc bù xù khét nắng của Mân. Ánh mắt Mân nhìn lên trời đờ đẫn xa vắng.

Nen vồ lấy thằng bạn, rú lên thảm khốc:

“Mân. Mày làm sao thế này?”

Thân hình Mân đổ vật qua một bên. Trên ngực gã máu đang loang ra đỏ ối. Đôi môi tái mét của Mân gượng gạo mở nụ cười:

“Nen… giấc mơ của mày sai rồi.”

Hai bàn tay lực lưỡng của Nen nhẹ nhàng giữ lấy khuôn mặt trắng nhợt của Mân. Gã thảng thốt trách:

“Sao mày làm thế?”

Mân thều thào:

“Thằng Thạc... mày đưa nó đi.”

Thạc đã tỉnh dậy, leo khỏi va gông đá. Gã chứng kiến toàn bộ cảnh Mân lao mình đến chắn ngang tầm đạn. Cả hai thằng bạn đều ngã vật ra đất. Thạc thét lên kinh hãi:

“Mân, Nen.”

Gã điên cuồng phóng đến bên Tống Chính Thao, tung hết sức đá một cú vào đầu kẻ thù. Tống Chính Thao đổ gục trên đất. Thạc lảo đảo chạy đến bên hai người bạn, khóc òa:

“Nen ơi, mày có sao không? Mân ơi. Để tao cõng mày đi.”

Nụ cười của Mân nhẹ tênh:

“Thạc hả? Cái đồng hồ...”

Lời nói dừng lại ở đó, bảng lảng bay theo gió. Hơi thở cuối cùng cũng hiu hắt thoát đi. Tuổi hai mươi của Mân đã tan vào cát bụi. Nen sững sờ đưa những ngón tay run rẩy lên vuốt tóc bạn, vuốt ve khuôn mặt lem luốc, trầy trụa. Giữa hàng nước mắt đang trào ra nhòe nhoẹt, gã thấy Mân chạy băng qua con suối, vai vác bao thức ăn, miệng cười rạng rỡ: “Tao mang xôi lên cho bọn mày.” Mân ngồi bên bờ đá lên kế hoạch đào thoát: “Đây lại là cơ hội duy nhất của bọn mình từ hai năm nay.” Mân, hình ảnh Mân tràn ngập trong ký ức của Nen. Từ khi cha mẹ mất đi, Nen chỉ có tình thuơng của Mân và Thạc để nuôi hy vọng sống, để nung nấu tự do.

Nen run run cúi xuống chạm trán mình vào trán Mân. Đấy là lối chào riêng của ba đứa khi còn học chung ở trường tiểu học Làng Hạ. Mỗi lần húc vào như thế, bọn chúng đều cười khúc khích, “ngày mai gặp lại nhé.” Khi lớn lên rồi, mỗi buổi tối chia tay, ba đứa cũng vẫn húc đầu vào nhau thì thầm, “tự do hay là chết”. Bây giờ nước mắt Nen nhỏ xuống guơng mặt trắng bệch của Mân, gã đau đớn thì thầm:“Mân. Tự do hay là chết.”

Hai hàm răng Thạc nghiến chặt để đừng bật ra tiếng kêu gào. Gã lặng lẽ gỡ cái đồng hồ trên tay Mân, thứ đồ vật quý giá nhất mà Mân có được trong suốt cuộc đời nghèo khổ của đứa con trai Làng Hạ. Kim đồng hồ đứng lại lúc 20 giờ 05.

Thạc cũng cúi xuống, run rẩy chạm trán mình vào trán bạn.

“Mân. Tự do hay là chết”.

*

Tống Chính Thao lồm cồm bò dậy. Hình ảnh ba thằng con trai hiện ra mập mờ bên cánh rừng tre cháy đỏ. Chiếc xe jeep của hắn cũng bốc cháy ngùn ngụt. Kho báu mà hắn đuổi theo hóa ra chỉ là thùng dầu chạy máy phát điện, nó cháy hừng hực phía sau. Ngọn lửa hung tàn đang ra sức thiêu hủy mọi thứ. Cơn đau lại kéo đến làm hắn suýt ngất đi. Giữa đau đớn, thất vọng, giận dữ Thao chỉ còn một khao khát duy nhất là giết sạch bọn người ở đây. Trung đội Mãnh Long đang va chạm với đám Thái binh trong rừng tre. Hỏa lực súng trường thoạt đầu vang lên dữ dội giữa tiếng gầm rú man rợ, rồi lẹt đẹt tắt dần. Thao không rõ đám Thái binh này từ đâu đến, có vẻ như chúng chỉ sử dụng khí giới thô sơ nhưng hung hãn lạ lùng. Chẳng mấy chốc nữa, cả trung đội thiện chiến của Phong Thổ sẽ bị chúng tiêu diệt. Làng Thượng rồi cũng bị chúng xóa sổ.

Tống Chính Thao nhếch môi cười căm phẫn. Hắn đưa súng lên, nhằm vào lưng Thạc. Bọn thanh niên Phong Thổ này chưa bao giờ chịu phục tùng hắn. Hiểm họa này chưa bao giờ bị tiêu diệt tận gốc. Ngón tay Thao co lại trên cò súng, bả vai của hắn bỗng chao đi. Viên đạn bay vuột vào không trung. Một cơn đau ghê rợn xuyên thấu từ vai lên đỉnh đầu, Thao hét lên hãi hùng. Mũi tên cắm vào vai hắn, đẩy hắn ngã vật ra phía sau.

Đôi mắt của Thao lại nhòa đi.

Người phụ nữ đang tiến đến gần có khuôn mặt rất quen. Tấm áo chàm của cô ta kiêu hãnh bay phần phật trong gió. Trong thoáng chốc, Thao nhớ lại ánh mắt rực lửa căm thù của người phụ nữ khi bước lên đoạn đầu đài. Đấy là Miên, thủ lĩnh của phong trào Thanh Niên Tự Do, thủ lĩnh của những người trẻ tuổi ở Phong Thổ. Đấy là Miên, nỗi sợ hãi kinh hoàng của lực lượng an ninh dưới quyền Tống Chính Thao.

Cha mẹ Miên đều là võ sư đất Lai Châu. Cách đây ba mươi lăm năm, họ từng xuống đường chống lại chủ trương bán đất 99 năm của nhà nước. Khi Phong Thổ trở thành đặc khu của Trung Hoa, họ không theo chính sách di dân ra khỏi Phong Thổ mà vẫn ở lại, mở lớp dạy học bổ túc ban đêm, chăm sóc y tế cho người dân, vận động công nhân đấu tranh với luật lao động của chính quyền mới. Sau năm năm tranh đấu, cha mẹ Miên bị Lư Khả bắt giam và xử án tử hình, lúc đấy Miên chỉ khoảng mười tám tuổi. Cô và người yêu thành lập một lực lượng trẻ gọi là Thanh Niên Tự Do, dùng chiến thuật du kích chống lại quân đội còn non nớt của Tống Chính Thao. Miên nổi tiếng tinh thông võ nghệ, biết sử dụng tất cả các loại vũ khí và hoạt động linh hoạt thần kỳ. Đêm đêm, Miên và lực lượng Thanh Niên Tự Do tấn công vào các doanh trại ở Làng Thượng, tuyên án tử hình nhân viên công an của Tống Chính Thao rồi biến mất không dấu vết. Những hầm chông, bẫy thuốc độc của Miên rải dày đặc khắp nơi, chặn đứng các cuộc hành quân vào Làng Hạ. Cuộc đối đầu diễn ra suốt mười năm trời, đội trưởng Thanh Niên Tự Do vẫn cứ là một câu đố bí ẩn và đáng sợ. Cho đến khi bắt được Miên, Thao mới kinh ngạc biết rằng, thủ lĩnh của phong trào kháng chiến đấy lại là một người phụ nữ rất trẻ.

Ngày bước lên đoạn đầu đài, Miên và chồng vẫn kiêu hãnh ngẩng cao đầu. Lời nói ngang tàng của Miên vang vọng dưới giá treo cổ:

“Bao giờ mày giết hết người Phong Thổ thì đất Phong Thổ mới thành đất Trung Hoa.”

Vì câu nói đấy mà Thao ra lệnh treo xác vợ chồng Miên cho diều quạ xâu xé. Vì câu nói đấy mà Thao cấm dân làng không được mai táng, cầu siêu, cúng tế cho vợ chồng Miên. Hai thân hình treo trước cổng chợ bị diều quạ móc hết ruột gan, phơi dưới nắng hè, bốc mùi chết chóc. Hai bộ xương cô quạnh phơi giữa trời đất cho ruồi nhặng bu đen. Kẻ thù của hắn đã bị hành hình theo cách thảm khốc nhất. Mỗi ngày Thao chạy xe qua, hắn đều dừng xe lại, buông lời nguyền rủa độc địa, “bọn phản loạn sẽ không bao giờ siêu thoát được”.

Vì lời nguyền rủa độc địa của Thao mà oan hồn hai vợ chồng Miên bị giam cầm ở Phong Thổ.

Xuơng cốt của Miên và Hchay bị Tống Chính Thao cho xe hủ lô cán nát, ném xuống sông Sìn Thà.

Giờ đây, Miên đứng trước mặt hắn, nguyên vẹn hình hài. Ánh mắt Miên nhìn xuống Tống Chính Thao xám xịt đầy chết chóc. Hắn biết phần số của mình đến đây là chấm dứt, kẻ thù đã trở về. Bàn tay trái của Thao từ từ đưa vào túi áo khoác.

Miên rút đao ra, ngẩng mặt lên trời dõng dạc:

“Hỡi hương hồn anh em Phong Thổ - anh em người Kinh, người Thái, người Mèo - hãy về đây chứng kiến phút giây này. Thay mặt đội Thanh Niên Tự Do Phong Thổ, tôi tuyên án tử hình tên xâm lược Tống Chính Thao.”

Lưỡi đao của Miên vừa chém xuống, trên bộ mặt của Thao nở ra nụ cười hiểm độc. Những ngón tay trong túi áo cũng hắn từ từ thả lỏng ra. Trái lựu đạn bật chốt.

Một vùng khói trắng và lửa đỏ bùng lên sau tiếng nổ dữ dội. Những mảnh áo chàm rách nát tả tơi tung lên trời cao. Thạc chồm dậy hét lên hãi hùng:

“Mẹ!”

Nước mắt Thạc tuôn ra ràn rụa. Đứa trẻ lên ba, mếu máo đưa tay lên trời:

“Mẹ. Con vẫn chưa kịp nói, con thương mẹ. Con thương mẹ lắm, mẹ ơi.”

Một tiếng hú bi thảm vọng ra từ cánh rừng phía trước. Người đàn ông thúc ngựa trong bóng hoàng hôn đỏ lửa, cất tiếng gọi thống thiết:

“Miên.”

Những mảnh áo chàm chao liệng trên không trung như những cánh chim. Chúng lượn một vòng qua rừng tre. Trong bóng chiều ảm đạm, đàn chim cất tiếng kêu giã từ buồn thê lương. Hchay ngồi chết sững trên lưng ngựa, nghẹn ngào gọi theo:

“Anh sẽ tìm em. Miên ơi."

Thạc gạt nước mắt, loạng choạng đi về phía người đàn ông. Khuôn mặt này từng hiện ra trong những giấc mơ đứt quãng của Thạc. Bao giờ nó cũng đưa Thạc trở về ngôi nhà nhỏ bên bìa rừng cùng với bóng áo chàm của một người phụ nữ. Nhưng thầy Bâng nói là họ đã chết. Cha mẹ Thạc đã chết khi Thạc lên ba tuổi.

Người đàn ông cũng xuống ngựa đi về phía Thạc. Nụ cười trên môi anh ngần ngại:

“Hchuk!”

Thạc vừa nghe lại tên mình, gã rùng mình thảng thốt:

“Bố?”

Hchay rụt rè nắm lấy bàn tay Thạc. Bàn tay mềm mại, nhỏ xíu của đứa trẻ ngày xưa giờ đã cứng cáp, chai sần. Hchay đưa tay vuốt tóc Thạc. Mớ tóc cứng rối bù níu giữ những ngón tay lạnh lẽo của Hchay lại. Anh bỗng ước gì mình có thể hôn lên mái tóc mềm mại của con như ngày còn bé, có thể bồng con trên tay tung lên cao, có thể dúi đầu vào ngực con để nghe thằng bé cười nắc nẻ. Cảm giác nhớ thương trong những ngày bị giam cầm ào ạt tràn về. Những giọt nước mắt khao khát được một lần nhìn lại con lại trào ra trên khóe mắt. Nhưng căn nhà xưa đã sụp đổ. Bếp lửa ấm đã lụi tàn. Người phụ nữ yêu thương đã vĩnh viễn chia xa. Mười lăm năm là khoảng thời gian mà Hchay không thể tìm lại. Anh trở về, nhưng ngày xưa đã vĩnh viễn ra đi.

Hchay đau xót lùi lại, cố bình thản nói:

“Con với Nen đi ngay ra biên giới. Chạy dọc theo đường sắt, khoảng một giờ là đến được Ma Lù Thàng. Từ đấy đi ngược về phía Nam là vùng tự do.”

Thạc nhìn vào mắt Hchay, khẩn khoản:

“Bố đi cùng chúng con.”

Gương mặt Hchay biến dạng dưới ánh lửa rừng. Lời nguyền đã bị xóa bỏ. Oan hồn tìm về nơi siêu thoát. Cơ thể Hchay đang tan rã. Tay chân anh bắt đầu tê dại, lưỡi anh bắt đầu mềm rữa. Hchay khó nhọc nói:

“Bố thuộc về nơi này. Bố không đi cùng con được đâu.”

Nen cũng đến bên hai bố con, gã buồn bã lên tiếng:

“Tao với mày cõng thằng Mân đi.”

Hchay hướng đôi mắt mờ đục nhìn sang Nen, lắc đầu:

“Cháu để thằng Mân lại. Nó cũng đã thuộc về nơi này.”

Nen khoác vai Thạc, nhìn một lần cuối thi thể Mân. Gã lặng đi giây lát, rồi thì thầm:

“Tao cảm ơn mày, Mân.”

Thạc nghẹn ngào nói lời ly biệt:

“Mân ơi, Bưu ơi, hai đứa mày ngủ yên nhé. Bố mẹ ơi, chúng con đi.”

Hchay nhìn lần cuối những cánh rừng xanh ngát. Anh khụy chân ngã xuống, thanh thản ấp bộ mặt tan rã lên mảnh đất quê hương.

“Tự do hay là chết.”